Khó nhưng không phải bất khả thi

Ngày đăng : 25/12/2011 - 1:35 PM

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, để giảm lạm phát còn một con số, phải hy sinh tăng trưởng, song có thể bù đắp tăng trưởng nếu cắt giảm đầu tư công điều chuyển cho khu vực tư nhân phát huy hiệu quả

 

Bà có nhận xét gì về chủ trương đưa lạm phát xuống 9% trong năm 2012 của Chính phủ?

- Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Ai cũng có thể nhận thấy mục tiêu này rất khó thực hiện nhưng tôi cho rằng không phải là không thể làm. Vấn đề ở chỗ các biện pháp đề ra thế nào, có làm tới nơi tới chốn không. Năm 2011 lạm phát vẫn cao so với chỉ tiêu 7% đề ra từ đầu năm, nguyên nhân do chủ yếu mới thực hiện chính sách tiền tệ tín dụng thắt chặt, chưa có sự đóng góp của chính sách tài khóa.

Cắt giảm vốn đầu tư chưa được nhiều vì chủ yếu cắt giảm dự án chưa bố trí vốn nên không mang lại tác dụng thực tế. Bên cạnh đó, không kiềm chế tốt sự tăng giá của các mặt hàng thiết yếu. Giá điện  đầu năm tăng hơn 15%, những ngày cuối năm lại tăng 5% nữa. Giá cả tăng, đầu tư không giảm thì không kiềm chế lạm phát được.

Tuy vậy, vẫn có thể thực hiện được lạm phát 9% với điều kiện các nhóm giải pháp theo Nghị quyết 11 được thực hiện triệt để, đồng bộ, không phải chỉ đẩy gánh nặng cho một mình chính sách tiền tệ như thời gian qua.

Hai là phải thực sự bắt tay vào tái cấu trúc kinh tế, đặc biệt là tái cấu trúc đầu tư công, ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp Nhà nước, tập đoàn kinh tế lớn. Nếu thực hiện được bước đi đầu tiên rất căn bản trong tái cấu trúc kinh tế thì việc giảm lạm phát sẽ có hiệu quả.

* Theo bà, trọng tâm chính sách điều hành của năm 2012 phải đặt vào lĩnh vực nào?


- Tôi cho rằng phải đặt trọng tâm vào cắt giảm đầu tư công. Không phải chỉ có quyết tâm của Chính phủ, cần phải có sự đồng lòng của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp Nhà nước là những người trực tiếp thực hiện đầu tư công. Nếu hệ thống bên dưới không làm sẽ rất khó có kết quả. Quốc hội cũng phải thẳng tay hơn trong phê chuẩn ngân sách, không nên thông qua vì sự đã rồi để người ta lấn tới không cắt giảm được. Năm 2011 dù tuyên bố giảm đầu tư nhưng vẫn có thêm mấy trăm dự án đầu tư mới được phê chuẩn vẫn cứ thông qua.

* Kéo lạm phát xuống 9% trong khi vẫn phải tăng giá hàng loạt mặt hàng thiết yếu theo lộ trình giá thị trường có phải là mâu thuẫn không, thưa bà?

- Đó là điều rất đáng lo ngại. Vấn đề chính là cho phép tăng đến đâu và kiểm soát tăng giá thế nào. Tôi rất bất ngờ và bất bình với việc Bộ Công Thương vừa chấp thuận cho EVN tăng 5% giá điện. Chọn thời điểm tăng giá lúc này giống như sử dụng tiểu xảo.

Tại diễn đàn Quốc hội, mấy vị bộ trưởng tuyên bố đến hết năm không có chuyện tăng giá xăng, giá điện nhưng EVN chờ đến khi chỉ số lạm phát của cả năm đưa ra rồi mới tăng giá. Không biết sang năm họ có chịu mức giá tăng 5% này không hay coi đây là tăng của năm 2011 và năm sau vẫn tăng bình thường. Nếu Nhà nước cứ để các doanh nghiệp lớn dùng thủ thuật như vậy sẽ không thể kiểm soát được giá, dẫn đến lạm phát cao.

* Chính phủ đã tuyên bố cắt giảm đầu tư nhưng địa phương vẫn xin thêm vốn vì có nhiều công trình dở dang, doanh nghiệp thì kêu cứu xin hỗ trợ. Phải chăng đây cũng là một mâu thuẫn với mục tiêu kiềm chế lạm phát, thưa bà?

- Đúng là mâu thuẫn, nhưng cũng phải hiểu biện pháp cắt giảm tín dụng không phải là cắt đồng loạt mà vẫn có tín dụng ưu tiên tùy đối tượng. Mức tăng trưởng tín dụng 15% thực ra vẫn là cao so với nhiều nền kinh tế khác. Vấn đề là phải rót vốn đúng đối tượng, không rót vốn quá lớn vào dự án, vào doanh nghiệp quy mô quá lớn. Mỗi dự án ngàn tỉ như vậy được cắt giảm để san sẻ vốn cho tư nhân có thể cứu được hàng trăm doanh nghiệp nhỏ và vừa với hàng ngàn, hàng vạn người lao động.

* Theo bà, đặt mục tiêu giảm lạm phát xuống một nửa trong vòng chỉ một năm có gây ra hệ lụy gì không?


- Sẽ phải hy sinh tăng trưởng. Nhưng có thể bù đắp được tăng trưởng nếu thực sự cắt giảm đầu tư công của doanh nghiệp Nhà nước làm ăn không hiệu quả để giải phóng nguồn lực điều chuyển cho khu vực tư nhân như tôi đã nói. Doanh nghiệp tư nhân làm ăn tốt hơn sẽ tạo ra tăng trưởng bù đắp phần hụt đi do Nhà nước cắt giảm đầu tư công. Khả năng này hoàn toàn có thể thực hiện vì bản chất của tái cấu trúc kinh tế và thay đổi mô hình tăng trưởng là điều chỉnh lại tiêu chí để tăng trưởng dựa vào hiệu quả, năng suất lao động và cạnh tranh.

 

Theo Phương Anh

 NLĐ


 


 

Họ tên :

Email :

Nội dung :

Tin cùng chủ đề

Thời kỳ bùng nổ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đã chấm dứt?

Ngày đăng : 25/12/2011 - 2:53 AM

Được kỳ vọng là đầu tàu khôi phục kinh tế thế giới, tuy nhiên các số liệu mới đây cho thấy kinh tế Trung Quốc đang có dấu hiệu chững lại.

 

Ngày 15/11, một chuyên gia kinh tế hàng đầu của chính phủ Trung Quốc xác nhận rằng các số liệu kinh tế gần đây cho thấy quá trình bùng nổ kinh tế kéo dài của kinh tế Trung Quốc đã chững lại, và thời kỳ tăng trưởng hai con số của Trung Quốc đã chính thức thuộc về quá khứ. 

 
“Chúng tôi tin tưởng rằng Trung Quốc đang tiến gần đến điểm tới hạn của thời kỳ tăng trưởng kinh tế” Yu Bin, Vụ trưởng phụ trách nghiên cứu kinh tế vĩ mô của Trung tâm nghiên cứu Hội đồng Nhà nước, Trung Quốc nói. “Cái chúng tôi cần là sự phát triển kinh tế ở mức độ vừa phải và hợp lý.”
 
Sự chậm lại này không phải là một điều ngạc nhiên đối với những nhà kinh tế, những người đã nghiên cứu các số liệu gần đây. Tuy nhiên nó như một cú sốc đối với kinh tế thế giới vốn đang khủng hoảng, trong đó một số nước, đặc biệt ở châu Âu, có nguy cơ phải đối mặt với tình trạng suy thoái kép. 
 
Trung Quốc được kỳ vọng là đầu tàu tái khởi động nên kinh tế thế giới, vai trò mà nước này đã thể hiện rất tốt hơn 3 năm trước, khi tăng trưởng mạnh mẽ và được hỗ trợ bằng gói kích thích trị giá 586 tỉ USD giúp thoát khỏi tình trạng suy thoái tồi tệ nhất. 
 
Suy giảm kinh tế đã đặt ra cho các lãnh đạo Trung Quốc một thách thức khó khăn. Từ khi Trung Quốc mở cửa nền kinh tế năm 1979, lãnh đạo của nước này đã vận hành đất nước dưới một thỏa thuận không tuyên bố rõ là đem lại tăng trưởng kinh tế 2 con số ngoạn mục, giúp đất nước thoát khỏi nghèo đói, và cũng tăng vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền.
 
Những vùng ven biển rộng lớn ở phía nam và phía đông đã trở nên thịnh vượng, hàng triệu người chỉ trong một thế hệ đã trở thành những người tiêu dùng trung lưu. Tuy nhiên, duy trì mức độ tăng trưởng cao liên tục là cần thiết để đón nhận lượng lớn sinh viên tốt nghiệp mỗi năm, và tạo việc làm cho hàng triệu lao động tự do trên thị trường đến thành phố từ những vùng nông thôn nghèo khó.
 
Ông Yu, trong một cuộc họp báo, nói rằng tăng trưởng trong quý IV/2011 được dự đoán giảm xuống còn dưới 9%, một phần là kết quả của sự phát triển chậm chạp của nền kinh tế Mỹ và khủng hoảng nợ nhà nước ở khu vực đồng tiền chung châu Âu. Ông dự đoán tăng trưởng năm tới sẽ thấp hơn 9%, và khoảng 7-8% năm 2017.
 
“Trung Quốc đã liên tục phát triển với tốc độ cao trong 3 thập kỷ”, Yu cho biết. Tuy nhiên hiện tại, những vấn đề cơ bản của Trung Quốc đang thay đổi, bao gồm cả vấn đề dân số và nhu cầu và nguồn cung cấp lao động. 
 
Tăng trưởng GDP Trung Quốc 2 năm gần đây và dự báo cho quý IV/2011 (Theo Washington Post).
 
Dự báo trên chủ yếu xác nhận rằng Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới tính theo GDP, đang bước vào một thời kỳ chuyển đổi khó khăn, khi bắt đầu từ bỏ mô hình nền kinh tế dựa vào xuất khẩu và đầu tư hào phóng của chính phủ vào cơ sở hạ tầng. 
 
Những con số sơ bộ trong tháng 12 cho thấy rằng sức sản xuất của Trung Quốc đã giảm trong tháng này, tiếp theo mức giảm đáng kể vào tháng 11. Bộ Thương mại Trung Quốc thông báo ngày 15/11 rằng, tính đến tháng 11, đầu tư nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc giảm 9,76% so với cùng kỳ năm trước, cơ bản là do nguồn đầu tư từ Mỹ giảm 23%. Tăng trưởng xuất khẩu tiếp tục giảm do nhu cầu từ thị trường châu Âu và Mỹ giảm mạnh.
 
Theo Hiệp hội sản xuất ô tô Trung Quốc, số lượng xe ô tô được bán ra giảm 2,4% trong tháng 11 so với cùng kỳ năm ngoái. Giá nhà đất trên cả nước liên tục giảm trong 3 tháng, cụ thể như ở Thượng Hải, giá nhà đất giảm xuống tới 40%. Thị trường chứng khoán Thượng Hải cũng đang trong thời kỳ ảm đạm, có thể đạt mức thấp kỷ lục trong năm. 
 
Nếu cần thêm bằng chứng về sự suy giảm kinh tế của Trung Quốc thì đó là việc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã hạ dự trữ bắt buộc với các ngân hàng thương mại, đảo ngược chính sách thắt chặt tài chính đã áp dụng cả năm trước trong nỗ lực hút tiền đầu tư vào nền kinh tế.
 
Patrick Chovanec, giảng viên tài chính tại trường đại học Thanh Hoa Bắc Kinh cho rằng Trung Quốc đang bước vào giai đoạn then chốt. Trong suốt hơn 3 năm qua, nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng cao dựa vào việc cho vay vốn dễ dàng và giá bất động sản cao. Tuy nhiên khi giá bất động sản sụt giảm, mô hình này đã bộc lộ nhiều điểm yếu. Câu hỏi đặt ra hiện nay là việc suy giảm này tác động đến Trung Quốc như thế nào?
 
Hội nghị Trung ương về Vấn đề Kinh tế tổ chức ngày 14/11/2011của các chuyên gia hoạch định chính sách kinh tế và chính trị hàng đầu Trung Quốc kết luận rằng bức tranh kinh tế thế giới vẫn “đặc biệt căng thẳng và phức tạp”, và cho rằng thử thách hiện nay với Trung Quốc là quản lý sự suy giảm và duy trì “ổn định xã hội”.
 
Mối lo ngại thậm chí cấp thiết hơn vì 2012 là năm chuyển giao lãnh đạo của Trung Quốc. Yu Bin, nói rằng đội ngũ lãnh đạo mới sẽ tiếp tục con đường phát triển kinh tế đã được thông qua. 
 
Ông Yu cho rằng sư suy giảm tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc là “bình thường” và thử đặt nó vào bối cảnh mà các nước khác đã trải qua quá trình công nghiệp hóa và phát triển cao, như Nhật và Đức sau Chiến tranh Thế giới thứ II, khi đó tăng trưởng của các nước này cũng giảm xuống sau khi đạt mức phát triển ổn định.
 
Theo ông Yu, khi Trung Quốc hướng tới nền kinh tế dựa vào sức tiêu thụ, người Trung Quốc sẽ phải học để “chấp nhận lạm phát”. Ví dụ, tiền lương sẽ được tăng để kích thích tiêu dùng, nhưng đồng nghĩa với việc sức ép lạm phát sẽ tồn tại một thời gian dài. Ông nói thêm rằng Trung Quốc có thể chấp nhận lạm phát khoảng 5%/ năm.
 
Giới chức Trung Quốc có lẽ sẽ miễn cưỡng hơn trong việc tăng giá đồng  nhân dân tệ, khi mà Mỹ và các nước khác luôn cho rằng rằng nhân dân tệ đang được định giá thấp hơn giá trị thực. Một số dấu hiệu cho thấy chính phủ Trung Quốc đang cho phép đồng tiền giảm giá nhẹ trong biên độ cho phép đã được thông qua. Những nhà kinh doanh tiền tệ ở Hồng Kông có vẻ cũng cho rằng với tăng trưởng chậm, kỷ nguyên từng bước tăng giá nhân dân tệ có thể đã trôi qua.
 
Ông Yu cho rằng dù chịu áp lực suy thoái và khủng hoảng nợ châu Âu, Trung Quốc sẽ không thực hiện bất cứ gói kích thích tăng trưởng nào như năm 2008 – 2009, với các khoản đầu tư vào xây dựng đường cao tốc, chung cư phức hợp, sân bay và hệ thống tàu điện cao tốc. Ông cho rằng cách làm đó là không cần thiết và không bền vững.
 
Thay vào đó, Yu cho rằng, Trung Quốc sẽ cố gắng điều chỉnh chính sách tài chính để thúc đẩy tăng trưởng như giảm thuế, tăng phúc lợi xã hội và nới lỏng thủ tục cho vay của ngân hàng. 
 
Theo Washington Post/DVT.vn

10 sự kiện, vấn đề nổi bật của ngoại thương Việt Nam 2011

Ngày đăng : 25/12/2011 - 2:23 AM
Năm 2011 đang dần khép lại bằng nhiều kỷ lục mới và những diễn biến tích cực cả ở góc độ giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu có xu hướng tăng lên, lẫn nhập siêu trên đà giảm xuống.
 
Phải chăng, thế giới càng khó khăn thì hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam càng được hưởng lợi? Dù chưa thể khẳng định được điều “trái ngoe” này, nhưng thực tế diễn biến ngoại thương Việt Nam trong hai năm khó khăn vừa qua với những con số sống động là điều không thể chối bỏ.
 
Cùng điểm lại 10 sự kiện, vấn đề nổi bật của ngoại thương Việt Nam trong năm qua.
 
1. Tăng trưởng trong khó khăn
 
Nhưng ngay đầu năm 2011, ngành công thương lại nhìn nhận tình hình thương mại quốc tế sẽ không dễ dàng như trước. Hội nghị ngành này lúc đó cho rằng, các quốc gia đang từng bước chuyển đổi cơ cấu và xu hướng sẽ là cân bằng lại thị trường trong nước và ngoài nước, đặc biệt với những thị trường dung lượng lớn.
 
Hoa kỳ, EU, Nhật Bản, những thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều được dự báo sẽ khó khăn hơn trong tăng trưởng. Cho nên, xuất hiện sự hồ nghi khả năng không đạt được mức tăng trưởng kim ngạch trên 20% trong năm trước đó.  
 
Năm đầu tiên thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng 9, mục tiêu tăng trưởng xuất, nhập khẩu đề ra chỉ ở mức khá khiêm tốn xuất khẩu tăng khoảng 10% so với thực hiện năm trước. Nhưng, thực tế đã không diễn ra như vậy.
 
Số liệu chốt cho tới thời điểm này được Vụ trưởng Vụ Thương mại Dịch vụ (Tổng cục Thống kê) Lê Thị Minh Thủy thông tin với VnEconomy, tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm ước tính đã vượt 96 tỷ USD, tăng khoảng 33% so với năm 2010; kim ngạch nhập khẩu đạt gần 106 tỷ USD, tăng tương ứng khoảng 25%.

2. Vị thế đối tác thương mại mới 
 
Nhìn lại trong 12 tháng qua, về cơ bản kim ngạch xuất, nhập khẩu không có tháng nào quá đuối, trừ tháng 2 do ảnh hưởng của Tết Nguyên đán.
 
Sau một chuỗi các tháng cuối năm 2010 kim ngạch xuất, nhập khẩu duy trì ổn định ở mức 6 tỷ và 7 tỷ USD đã là khá cao so với trước, sang năm 2011, ngoại thương Việt Nam tiến thêm một bước dài. Dung lượng thị trường xuất khẩu đã cố định được ở mức từ 7,2-9,3 tỷ USD/tháng; trong khi nhập khẩu kéo từ mức 8,2-9,6 tỷ USD/tháng, suốt giai đoạn từ tháng 3 cho đến tận cuối năm. 
 
Một vài biểu hiện “ngúng nguẩy” từ đối tác lớn như trường hợp gạo Việt bị thương nhân Philippines “bắt bí”, hay dệt may đuối hơn vào cuối năm, vàng “khuynh đảo” cả hai chiều thương mại… chưa dễ làm thay đổi vị thế ngoại thương vẫn đang liên tục tăng trưởng và mở rộng mấy năm gần đây.
 
Năm 2011 khép lại với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã vượt mức 200 tỷ USD, gấp khoảng 2 lần GDP năm trước đó. Kết quả là Việt Nam đã “qua mặt” Philippines để giữ vị trí thứ 5 về xuất nhập khẩu trong khu vực Đông Nam Á, chỉ còn xếp sau Singapore, Thái Lan, Indonesia và Malaysia.

3. Nhập siêu có xu hướng giảm
 
Trong một cuộc họp với Bộ Công Thương gần đây, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải khi đề cập đến con số nhập siêu giảm trong năm nay có nói vui về một thứ trưởng, khi đó, ông Hải dùng từ “lắm chiêu” để khen cho Bộ Công Thương hoàn thành nhiệm vụ được giao. Vị thứ trưởng nọ khi đó chỉ cười, nhưng những gì mà con số nhập siêu thể hiện đã cho thấy nỗ lực của ngành này.
 
Bởi lẽ, sau hai năm liền ở trạng thái thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã bị “thổi bay” nhiều tỷ USD. Tính đến quý 1/2011, con số chính thức từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, dự trữ ngoại hối chỉ còn tương đương khoảng 3,5 tuần nhập khẩu. Gánh vác việc cân bằng lại thu - chi ngoại tệ của quốc gia, Bộ Công Thương là điểm đột phá đầu tiên.
 
Cũng giống như 2009, năm nay trạng thái ngoại thương của Việt Nam có rất nhiều đột biến, đặc biệt là trong quý 3. Ở giai đoạn này, cán cân thương mại biến động dữ dội giữa các mốc xuất siêu hơn 1,1 tỷ USD trong tháng 7, sang nhập siêu trên 1,5 tỷ USD của tháng 9.
 
Tuy nhiên, về tổng thể, nhập siêu đã được kiểm soát tốt hơn, với con số ước tính trong năm khoảng 9,5 tỷ USD, thấp hơn nhiều năm 2010 (nhập siêu 12,6 tỷ USD) và 2009 (12,85 tỷ USD). Tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu giảm xuống 10,4% trong năm nay, thay vì 17,5% trong năm 2010.
 
Theo thông tin chính thức, cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam trong năm nay ước tính tăng khoảng 2,5-3 tỷ USD và dự trữ ngoại hối cũng đã tăng lên, tương ứng bằng khoảng 7,5 tuần nhập khẩu vào quý 3 năm nay.
 
4. Cơ cấu xuất nhập khẩu ít thay đổi
 
Nhưng những lưu ý của Bộ Công Thương về các hạn chế trong cơ cấu hàng xuất nhập khẩu lâu nay, trong năm 2011 chưa được cải thiện nhiều. Về cơ bản, Việt Nam vẫn ở tình trạng nhập lớn nguyên, nhiên liệu, nhất là nguyên liệu gia công sản xuất các ngành như dệt may, da giày, linh kiện điện tử... thể hiện tính gia công và phụ thuộc bên ngoài của sản xuất trong nước.
 
Về nhập khẩu, nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị, phụ tùng ước đạt kim ngạch 87,6 tỷ USD trong năm nay, tăng 22,5% so với năm 2010, dù tỷ trọng trong tổng kim ngạch nhập khẩu đã giảm khoảng 1,7% nhưng vẫn chiếm tới 82,6% kim ngạch nhập khẩu.
 
Với các mặt hàng máy móc, thiết bị, phụ tùng, thị trường nhập khẩu chủ yếu vẫn là châu Á - Thái Bình Dương nên nhiều lo ngại lâu nay về xu hướng tăng nhập khẩu công nghệ trung gian chưa được giải quyết triệt để.
 
Trong khi đó, xuất khẩu tăng về tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến nhưng chủ yếu là gia công, với tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng từ 59,6% trong năm 2010 lên 60,2%. Nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản cũng tăng nhẹ tỷ trọng từ 11,2% lên 11,7%. Riêng nhóm hàng nông, lâm, thủy sản giảm từ 21,2% xuống 20,3%.
 
5. Tăng giá xuất nhập khẩu: Công và “tội”
 
Đóng góp vào mức tăng mạnh kim ngạch xuất nhập khẩu năm nay, yếu tố giá thể hiện ở tất cả các mặt hàng có tính được về lượng. 
 
Ngoài gạo, cà phê, cao su, dầu thô, than được hưởng lợi nhờ giá thị trường thế giới tăng mạnh, một số mặt hàng khác là do hàm lượng chế biến trong sản phẩm xuất khẩu được nâng lên như thủy sản, hàng dệt may, sản phẩm gỗ, sản phẩm chất dẻo, dây và cáp điện...
 
Trong khoảng 24 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu tăng cao hơn năm ngoái, đóng góp của nhân tố tăng giá chiếm 7,2 tỷ USD, trong đó nhóm nông sản, thủy sản tăng thêm được khoảng 3,3 tỷ USD, nhóm nhiên liệu khoáng sản khoảng 2,8 tỷ USD, nhóm công nghiệp chế biến khoảng 1,1 tỷ USD. 
 
Tuy nhiên, giá nhập khẩu nhiều mặt hàng cũng tăng rất mạnh, ảnh hưởng không nhỏ đến đầu vào của sản xuất kinh doanh trong nước. 
 
6. Điều chỉnh lớn với đối tác 
 
Trong dòng chảy chung của tăng trưởng xuất nhập khẩu năm nay, đã xuất hiện hai xu hướng tích cực được điều chỉnh về phía các đối tác thương mại của Việt Nam rất đáng ghi nhận trong năm nay. Thứ nhất là việc tiếp cận sâu hơn đối với các thị trường mới ở khu vực châu Phi. Thứ hai là cân bằng hơn đối với các đối tác thương mại chính.
 
Mặc dù tổng kim ngạch xuất khẩu vào châu Phi của Việt Nam mới ở mức khoảng 3,1 tỷ USD trong năm nay, nhưng tốc độ tăng trưởng đã lên tới 131%, riêng Nam Phi tăng 250%. New Zealand cũng nằm trong số các thị trường xuất khẩu mới của Việt Nam, có mức tăng trưởng kim ngạch khá cao tới 29%.
 
Trong khi đó, tất cả các thị trường xuất khẩu chủ lực của ta đều ghi nhận mức tăng trưởng kim ngạch cao hơn bình quân chung. Các ví dụ điển hình là xuất khẩu vào Hàn Quốc tăng tới 64% trong khi nhập khẩu tăng 34%; sang Trung Quốc tăng 58% trong khi chiều ngược lại tăng 21%; Nhật Bản tăng 37% và 14%; EU là 48% và 18%...
 
7. Lại biến động do vàng
 
Hai động thái ngược chiều của Ngân hàng Nhà nước trong năm nay: để cho doanh nghiệp “thả phanh” xuất vàng, và nhanh chóng cấp quota nhập khẩu, đã tạo nên hình thái biến động rất lớn cho một giai đoạn giá vàng “điên đảo” cán cân thương mại.
 
Đột biến xuất siêu lớn đến xuất siêu hơn 1,1 tỷ USD trong tháng 7, rồi nhanh chóng trở lại nhập siêu tới trên 1,5 tỷ USD trong tháng 9, dòng ngoại tệ vào ra lớn gắn với dấu hỏi về “chạy máu” vàng trong năm nay.
 
Ở thị trường trong nước, giá vàng có điều chỉnh rất lớn, chỉ số giá vàng bình quân trong năm nay tăng 39% so với năm 2010. Trên thị trường, nhiều thời điểm giá mua vào và bán ra chênh lệch tới 4-5 triệu đồng/lượng là điều kiện để kim loại quý này xuất ngoại, hoặc nhập vào trong nước, tạo kênh kinh doanh siêu lợi nhuận cho giới đầu cơ.
 
Tính đến cuối tháng 11, Việt Nam đã xuất khẩu trên 2,6 tỷ USD kim ngạch nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm, trong khi nhập khẩu tương ứng gần 2,2 tỷ USD.
 
8. Năm của nhiều chính sách kiểm soát nhập siêu
 
Ngày 9/2, Tổng cục Hải quan đã ban hành “Tuyên ngôn phục vụ khách hàng” với những cam kết trước cộng đồng xã hội về việc đảm bảo tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước về hải quan đối với các hoạt động thương mại, đầu tư và du lịch quốc tế. 
 
Tuy nhiên, trong một năm mà nhiệm vụ kiểm soát nhập siêu đặt trên vai “người gác cửa” của thị trường Việt Nam này, nhiều chính sách vẫn hướng vào việc khuyến khích xuất khẩu và giảm nhập khẩu.
 
Ngày 23/5, Tổng cục Hải quan đã bổ sung 7 nhóm hàng vào danh mục quản lý rủi ro cần kiểm tra về giá tính thuế và sửa đổi, bổ sung mức giá mặt hàng xe ôtô, xe hai bánh gắn máy. Còn kể từ ngày 1/6, các mặt hàng rượu, mỹ phẩm, điện thoại di động (trừ hành lý mang theo người của khách nhập cảnh) chỉ được làm thủ tục nhập khẩu, thông quan tại ba cảng biển quốc tế là Hải Phòng, Đà Nẵng và Tp.HCM. 
 
Trong khi đó, ngày 19/7, Tổng cục Hải quan công nhận 9 doanh nghiệp được ưu tiên trong quản lý nhà nước về hải quan, thuốc các lĩnh vực xuất khẩu thủy sản, xuất khẩu gạo, xuất khẩu cà phê và kinh doanh dầu khí…
 
Kết quả về cuối năm là kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng cần hạn chế (hàng tiêu dùng, ô tô từ 9 chỗ trở xuống, xe máy) tăng 2,5%, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng chung 25%. Tỷ trọng của nhóm này trong kim ngạch nhập khẩu cũng giảm khoảng 1 điểm phần trăm, xuống mức 5,8%.
 
9. Ngoại thương tác động mạnh đến thị trường ngoại hối
 
Như đã nói ở phần đầu, nhập siêu trên 12,6 tỷ USD trong năm 2010, với 3 tháng cuối cùng liên tục vượt 1 tỷ USD đã tạo sức ép lớn đến thị trường ngoại hối. Chênh lệch quá lớn giữa thị trường chính thức và chợ đen, dự trữ ngoại hối thâm thủng nặng nề, đã buộc Ngân hàng Nhà nước phải phá giá đồng nội tệ.
 
Ngày 11/2, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định tăng giá USD/VND tới 9,3%, mức lớn nhất trong ghi nhận mấy năm gần đây, cùng với đó là thu hẹp biên độ xuống mức +/-1%.
 
Nhưng “điềm báo” đầu năm ấy đã không thể hiện xu hướng cho cả một năm. Dù vẫn có nhiều thời điểm thăng trầm, nhưng về cơ bản, thị trường ngoại hối tương đối ổn định trong năm nay. Chỉ số giá USD bình quân chỉ tăng 8,47%, mức tăng của tháng 12/2011 so với cùng kỳ năm trước lại chỉ có 2,24%.
 
Tác động ngược lại đến hoạt động ngoại quan, ước tính nguyên nhân điều chỉnh tỷ giá đã làm cho thu hải quan năm nay tăng khoảng 5 nghìn tỷ đồng.
 
10. Điện thoại di động tạo đột biến
 
Vào tháng 6 năm nay, biểu thống kê tình hình xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan xuất hiện thêm 4 nhóm hàng xuất khẩu và 5 nhóm hàng nhập khẩu. Trong số những “anh hào” mới gia nhập do chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong kim ngạch xuất nhập khẩu, nổi lên là điện thoại di động.
 
Tháng đầu “trình làng”, nhóm điện thoại các loại và linh kiện mới đạt kim ngạch 405 triệu USD. Nhưng sau khi Samsung đưa dây chuyền sản xuất điện thoại di động thứ hai vào hoạt động tháng 9/2011, ngay tháng kế tiếp, nhóm hàng này đạt kim ngạch hơn 1 tỷ USD trong thống kê hải quan.
 
Đến cuối năm nay, ước tính mặt hàng điện thoại di động sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 7,5 tỷ USD, tăng trưởng 257% so với năm ngoái và vươn lên vị trí thứ 2 về xuất khẩu, chỉ sau mặt hàng dệt may. Nhóm hàng này cũng duy trì mức xuất siêu rất lớn, ước tính khoảng 4 tỷ USD trong năm nay.
 
Theo Anh Quân
VnEconomy

Hà Nội: Thưởng Tết cao nhất 67,3 triệu đồng

Ngày đăng : 25/12/2011 - 2:13 AM
Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội vừa có báo cáo nhanh về tình hình lương, thưởng Tết năm 2011 của các doanh nghiệp trên địa bàn.
 
Theo đó, mức thưởng cao nhất tại Hà nội được công bố là  67,3 triệu đồng, thuộc về một doanh nghiệp tư nhân.
 
Báo cáo của Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội cho biết, khối doanh nghiệp tư nhân đang có mức thưởng cao nhất trên địa bàn là 67,343 triệu đồng/người, thấp nhất là 450 nghìn đồng/người.
 
Khu vực doanh nghiệp Nhà nước, mức thưởng Tết bình quân hơn 3,7 triệu đồng/người, tăng 4,5% so với năm 2010. Doanh nghiệp ở khu vực này có mức thưởng cao nhất là trên 22 triệu đồng/người và thấp nhất là 300.000 đồng/người.
 
Trong khi đó, ở khối doanh nghiệp FDI, mức thưởng Tết giảm so với năm ngoái. Cụ thể, mức thưởng bình quân của doanh nghiệp khối này  trên 4,2 triệu đồng/người ; mức cao nhất gần 60 triệu đồng/người và thấp nhất là 200.000 đồng. Tết năm ngoái, mức thưởng cao nhất của khối này đạt gần 73 triệu đồng/người và thấp nhất là 500 nghìn đồng.
 
Ông Phạm Văn Thanh, Trưởng phòng Chính sách lao động, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội cho rằng, năm 2011 do nhiều biến động về giá cả, lạm phát, tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, nên mức thưởng nói chung giảm so với năm ngoái cũng không có gì đáng ngạc nhiên.
 
Tuy nhiên, theo ông Thanh, điều “an ủi” đối với  người lao động năm nay là Chính phủ quyết định nâng mức lương tối thiểu lên cao nhất 2 triệu đồng đối với vùng 1, từ 1/10, do vậy, mức lương bình quân của người lao động đã được tăng đáng kể. Đặc biệt là lao động làm việc tại các doanh nghiệp FDI, khối doanh nghiệp thường "bám" vào quy định mức lương tối thiểu để trả cho người lao động.
 
Mức lương bình quân năm 2011 của khối FDI  là 4,034 triệu đồng/người/tháng. Thậm chí, có những doanh nghiệp đã trả mức lương cao nhất cho lao động là 10 triệu đồng tháng và mức thấp nhất đều không dưới 2 triệu đồng.
 
Theo Nam Anh 
VnEconomy

Những câu hỏi đặt ra từ mức lạm phát cả năm

Ngày đăng : 23/12/2011 - 5:12 PM

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2011 vừa được chính thức công bố, dù sớm hơn thường lệ nhưng đã không còn nhiều ý nghĩa.

Lý do là vì các con số cơ bản nhất như lạm phát theo năm, theo tháng đã được Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh phát đi từ trước đó một ngày (22/12), tại hội nghị Chính phủ mở rộng.

Điểm điều chỉnh nhỏ trong dữ liệu của Tổng cục Thống kê là lạm phát cả năm, tính theo CPI tháng 12/2011 so với tháng cùng kỳ năm trước, nhỉnh hơn 0,01% so với con số của Bộ trưởng Vinh công bố hôm qua, khi tăng ở mức 18,13%; trong khi CPI tháng này tăng 0,53% so với tháng trước, không thay đổi so với con số được công bố trước đó.

Một con số khác là CPI bình quân năm, vốn trước đây từng được Tổng cục Thống kê đề xuất dùng làm chỉ tiêu lạm phát nhưng chưa được đưa vào thành “chỉ  tiêu pháp lệnh”, năm 2011 tăng tới 18,58% so với năm 2010.

Với lạm phát theo năm, mức tăng rất cao, tính trong khoảng 15 năm gần đây chỉ còn thấp hơn năm 2008, đem đến những dấu hỏi lớn về tác động của chính sách vĩ mô đang tác động đến mức nào đến CPI năm nay?

Tăng trưởng GDP, theo con số Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng công bố ngày hôm qua là 5,9%. Trong khi đó, tổng phương tiện thanh toán chỉ tăng khoảng 10% và tín dụng tăng 12%.

Tương quan tiền - hàng qua các con số kể trên cho thấy tỷ lệ này đã thấp hơn rất nhiều so với mức có thể lên đến 4 - 5 lần, thậm chí cao hơn các năm trước. Nhưng do một cách thức tích tụ nào đó, lạm phát đã tăng rất cao trong năm nay.

“Nguyên nhân dẫn tới lạm phát có nhiều và rất phức tạp”, nguyên Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) Nguyễn Ngọc Bảo từng cho biết trong một hội thảo hồi tháng trước. Nhưng nhiều nhìn nhận thẳng thắn hơn thì cho rằng, lạm phát có nguyên nhân chính từ tiền tệ.

Sự tích tụ bất ổn từ tăng tín dụng và cung tiền các năm trước có tính trước được không? Và nếu tính được, tránh nhiệm nào với những cá nhân ra quyết định dẫn tới nền kinh tế chịu rủi ro lạm phát cao ở các năm gần đây? Và đấy có là những vấn đề cần được xới lên để tìm giải pháp cho chủ trương tiếp tục kiểm soát chặt lạm phát mà Chính phủ đang hướng tới? Hàng loạt câu hỏi có thể đặt ra cho con số 18,13%...

Nhưng tới tận gần đây, nhiều cơ quan chức năng vẫn tiếp tục từ chối công khai con số lạm phát cơ bản, vốn được cho là để đo lường tác động đến lạm phát từ góc độ tiền tệ.

Hay một góc độ tác động khác là chính sách tài khóa, về lý thuyết được cho là tác động đến lạm phát nhanh hơn chính sách tiền tệ. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ước cả năm 2011, thu ngân sách nhà nước đạt 674,5 nghìn tỷ đồng; chi ngân sách đạt 796 nghìn tỷ đồng.

Nếu so với các con số dự toán tương ứng từ Bộ Tài chính là thu 595 nghìn tỷ đồng (không gồm thu kết chuyển), hay chi 725,6 nghìn tỷ đồng (bao gồm cả trả nợ gốc), các con số trên đều cao hơn rất nhiều, ứng với khoảng 13,4% và 9,7%.

Chưa có chi tiết về con số thu, chi để nhìn nhận lại chủ trương cắt giảm chi thường xuyên 10%, đình, hoãn, giãn dự án, công trình…, nhưng những câu hỏi đặt ra từ con số kể trên, liên quan đến việc chính sách tài khóa đã làm giảm tổng cầu đến đâu, có lẽ cũng cần phải được giải đáp.

Trở lại với tháng này, con số 0,53% của CPI đã cho thấy lạm phát đang có xu hướng tăng trong 3 tháng gần đây. Có phần nguyên nhân là chu kỳ cuối năm, nhưng về tổng thể, mức độ tăng trong tháng không quá cao so với các năm trước, kể cả ở những giai đoạn nền kinh tế tương đối ổn định.

Nhưng những thay đổi trong mặt bằng giá của các nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng trong tháng này cũng cho thấy một số diễn biến quan ngại.

CPI thực phẩm đã không còn giảm mà tăng trở lại 0,49%; CPI thực phẩm còn ở mức cao, khi tăng 1,4%; các nhóm hàng hóa tiêu dùng có tính mùa vụ như hàng thời trang, thiết bị đồ dùng gia đình, vật liệu xây dựng, dịch vụ cá nhân… đang có xu hướng tăng lên, một số duy trì ở mức tăng khá cao trong mấy tháng gần đây.

Ngoài ra, còn một lưu ý khác trong con số lạm phát tháng này là việc điều chỉnh giá điện chưa tác động, nhưng sẽ ảnh hưởng đến CPI trong tháng tới.

Chỉ số giá vàng tháng 12 giảm 0,97% so với cùng kỳ; chỉ số giá USD tăng 0,02%. Tháng 12 khép lại với sự ổn định tương đối ở hai nhóm chỉ số vừa là tiền tệ, vừa là hàng hóa có tính đầu cơ cao này.

 

Theo Anh Quân

VnEconomy


Còn một điều Thống đốc chưa thực hiện được…

Ngày đăng : 23/12/2011 - 3:32 PM
Phần lớn những định hướng và cả cam kết mà Thống đốc Nguyễn Văn Bình đưa ra hiện đã cơ bản định hình, duy còn một điều chưa rõ…
 
Trong một trao đổi bên lề gần đây, Thống đốc Nguyễn Văn Bình nói rằng, những định hướng chính mà Ngân hàng Nhà nước về điều hành chính sách và quản lý thị trường cơ bản đã có kết quả.
 
Thứ nhất, chủ trương hạ lãi suất cho vay VND từ cuối tháng 9/2011 xuống 17 - 19%/năm đã được các ngân hàng thương mại triển khai.
 
Thứ hai, cam kết điều chỉnh tỷ giá USD/VND từ thời điểm 7/9/2011 cho đến hết năm 2011 không quá 1% cũng chỉ còn ít ngày nữa để chính thức đạt đích.
 
Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước đã bước đầu có các giải pháp can thiệp thị trường vàng mà không phải dùng đến việc cấp hạn ngạch nhập khẩu, chi ngoại tệ cho nhập khẩu; dù hiện nhà điều hành vẫn còn thiếu các công cụ pháp lý rõ ràng và đầy đủ hơn cho khả năng can thiệp.
 
Cả ba định hướng và kết quả trên đều có trong những thông điệp mà Thống đốc đưa ra khi tiếp nhận vị trí lãnh đạo cao nhất của Ngân hàng Nhà nước.
 
Ngoài ra, thị trường còn ghi nhận cả những kết quả tích cực khác không có trong trao đổi nói trên.
 
Đó là trần lãi suất huy động VND đã được làm nghiêm trong những tháng gần đây. Và mới nhất, một sự kiện mà Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã ghi dấu ấn khi cho tiến hành hợp nhất ba ngân hàng thương mại có vấn đề (dù thành công của việc hợp nhất còn cần thêm thời gian để kiểm chứng).
 
Thế nhưng, có một điểm mà Thống đốc vẫn chưa thực hiện được, cũng chưa rõ lúc nào sẽ thực hiện được hoặc không thực hiện… Đó là bỏ trần lãi suất huy động.
 
16 ngày sau khi tiếp nhận nhiệm vụ lãnh đạo ngành, trả lời phỏng vấn của báo giới về cơ chế trần lãi suất, Thống đốc nói: “Cuộc sống đôi khi cũng cần phải có biện pháp hành chính. Áp dụng biện pháp hành chính vì chúng ta chưa tìm ra được các công cụ mang tính kinh tế mà việc sử dụng cho phép đạt được mục tiêu trong thời gian ngắn nhất. Sử dụng biện pháp hành chính là cực chẳng đã và chỉ trong thời hạn ngắn. Trần lãi suất huy động là một giải pháp hành chính, sức sống của nó không thể dài được. Khi thị trường ổn định, nhất định sẽ bỏ trần lãi suất”.
 
Cuối năm 2010, trước sự xáo trộn của lãi suất trên thị trường, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng cơ chế trần lãi suất huy động VND với 14%/năm. Đến nay đã hơn một năm, một năm căng thẳng với cơ chế trần.
 
Mục đích chính của cơ chế là đưa ra một giải pháp hành chính can thiệp tức thời những xáo trộn trên thị trường. Đó là giá trị tích cực được nhiều ý kiến trong và ngoài ngành, hoặc từ các chuyên gia ủng hộ tại thời điểm đó. Ở một giá trị khác, chính Thống đốc Nguyễn Văn Bình cũng thừa nhận rằng là rất tích cực khi vào cuối 2010 trần ấn định mốc 14%/năm, trong khi chỉ tiêu kiềm chế lạm phát năm 2011 ban đầu là 7% - tức người gửi tiền “có lãi” so với lạm phát kỳ vọng đó.
 
Cho đến nay, khi lạm phát cả năm 2011 đã vượt 18%, thực tế là quá khác. Nhưng trả lời trước Quốc hội, Thống đốc nói: “Đến tháng 8 chúng ta thấy rằng trần lãi suất 14% là đúng và là tích cực. Bởi vì nếu bắt đầu từ tháng 8 là chúng ta trả lãi suất cho một năm tiếp theo, không phải là chúng ta đã trả lãi suất cho một năm đã qua”.
 
Tiếp tục áp trần với 14%/năm, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục “neo” một kỳ vọng có thể hiểu họ cho là hợp lý về lạm phát trong dân cư. Một yếu tố tham khảo ở đây là định hướng kiếm chế lạm phát năm tới dưới 10% cũng đã được đưa ra, còn niềm tin của công chúng với chỉ tiêu đó lại là vấn đề khác. 14%/năm so với kỳ vọng lạm phát kiềm chế được dưới 10% trong một năm tới, nếu vậy, trần lãi suất đó hiện là tích cực với người gửi tiền. Là tích cực thì chưa vội điều chỉnh hoặc gỡ bỏ.
 
Với hệ thống ngân hàng, sau những quyết định xử phạt quyết liệt các trường hợp vi phạm vừa qua, cơ chế trần cơ bản đã được nghiêm, trật tự thị trường được thiết lập lại. Đó cũng là tích cực, và theo đó có lẽ cũng chưa vội để điều chỉnh hoặc gỡ bỏ trần.
 
Thế nhưng, định hướng “khi thị trường ổn định, nhất định sẽ bỏ trần lãi suất” mà Thống đốc đã nêu vẫn còn đó. Quan trọng hơn, nếu cơ chế trần tiếp tục kéo dài sẽ dẫn tới những hệ quả gì, bên cạnh giá trị tạo trật tự cho thị trường (hoặc có thể còn là một công cụ để thanh lọc hệ thống, một chốt chặn để hạn chế tình trạng lãi suất cho vay bị đẩy lên quá cao, hay do chưa có các công cụ quản lý khác hữu hiệu…)?
 
Một câu trả lời vui từ lãnh đạo một ngân hàng thương mại rằng: “Nếu tiếp tục áp cơ chế trần lãi suất huy động, báo chí các bạn sẽ còn rất nhiều chuyện để viết”.
 
Còn trên thực tế, một năm căng thẳng vừa qua cũng đã cho thấy có nhiều vấn đề đặt ra.
 
Thứ nhất là tình trạng vượt trần, lách trần trong phần lớn thời gian của năm 2011. Gần đây chính lãnh đạo ngân hàng lớn nói rằng có hiện tượng “tái xuất” và vẫn phức tạp. Phía sau đó vẫn còn quan ngại về rủi ro đạo đức và rủi ro nghiệp vụ trong hệ thống.
 
Thứ hai, cơ chế trần tiếp tục tồn tại đồng nghĩa với sự triệt tiêu cạnh tranh trong huy động vốn giữa các ngân hàng xét ở công cụ chủ yếu nhất. Từ đây, khó khăn thanh khoản do khó huy động vốn vẫn là nỗi ám ảnh đối với các ngân hàng nhỏ, mà thực tế thời gian qua đã được phản ánh ở sự dịch chuyển dòng tiền gửi bất lợi đối với họ.
 
Thứ ba, hệ lụy của sự dịch chuyển đó là mối liên hệ với thị trường liên ngân hàng. Bất cập cũng đã xẩy ra với cơ chế áp điều kiện thế chấp, bảo đảm tài sản lần đầu tiên nảy sinh, ảnh hưởng xấu tới môi trường và hạn chế vai trò của thị trường này trong điều hòa vốn cho hệ thống.
 
Thứ tư, áp trần lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước chặn đầu vào nhưng “thả” đầu ra và năm 2011 dự kiến thị trường sẽ chứng kiến một sự gia tăng mạnh của tỷ lệ lãi biên trong các ngân hàng thương mại. Những tính toán gần đây của một số công ty chứng khoán cho thấy có những nhà băng thu chênh lệch lãi bình quân đạt tới 4,2%, thậm chí trên dưới 5% trong năm nay, trong khi liên tiếp 3 năm trước đó chỉ duy trì quanh 3%. Tất nhiên, một cái khó của các nhà băng là do năm nay không được đẩy mạnh tín dụng như những năm trước để có thể thực sự chia sẻ ở tỷ lệ này.
 
Như Thống đốc từng nhìn nhận, áp trần là một biện pháp hành chính cực chẳng đã, và sẽ bỏ khi thị trường ổn định. Như vậy, sau hơn một năm cùng với những vấn đề nảy sinh nói trên, liệu đời sống của cơ chế trần sẽ còn kéo dài đến bao lâu nữa? Và thị trường cần bao lâu nữa mới thực sự ổn định?
 
Theo Minh Đức
VnEconomy

 

Tin mới cập nhật