“Vắng mặt” số liệu huy động vốn

Ngày đăng : 17/12/2011 - 2:59 PM

Lần đầu tiên trong nhiều năm trở lại đây báo cáo tổng kết năm của Ngân hàng Nhà nước công bố thiếu vắng những con số về lượng vốn huy động của hệ thống.

Sáng nay (17/12), Ngân hàng Nhà nước công bố thông tin báo chí về điều hành chính sách tiền tệ năm 2011, định hướng và giải pháp điều hành năm 2012. Một trong những con số được mong đợi nhất lại không thấy đề cập đến.

Cụ thể, bên cạnh các dữ liệu về tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, số liệu về tăng trưởng huy động vốn của hệ thống các tổ chức tín dụng không có trong thông tin công bố.

Số liệu huy động vốn của hệ thống được mong đợi bởi nó phản ánh thực tế có nhiều xáo trộn trong thời gian gần đây, đặc biệt trong tháng 11/2011. Đáng chú ý là thông tin về tình hình hoạt động của hệ thống trong tháng 11/2011 cũng không được Ngân hàng Nhà nước tập hợp và công bố như thường thấy.

Trước đó, thị trường chờ đợi con số về tình hình huy động vốn của các ngân hàng trước sự xáo trộn của tâm lý người gửi tiền xoay quanh hiệu ứng bất lợi của thông tin tái cấu trúc hệ thống, khi có những lo ngại về khả năng sáp nhập một số ngân hàng nhỏ dù nhiều lần Ngân hàng Nhà nước khẳng định sẽ đảm bảo an toàn hệ thống; bên cạnh đó là nhiều biến động trên thị trường vàng với thực tế có những thời điểm người dân đổ xô đi mua vàng.

Hơn nữa, trước tháng 11/2011, hoạt động ngân hàng đã chứng kiến hai tháng liên tiếp huy động vốn sụt giảm. Liệu trạng thái đó có tiếp tục thể hiện? Phía sau đó còn phản ánh một phần niềm tin của người dân vào VND, phản ánh sự hấp dẫn của lãi suất khi cơ chế trần được làm nghiêm…

Trở lại với thông tin vừa công bố của Ngân hàng Nhà nước, không có nhiều thay đổi khi năm 2011 này tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp như những dự tính đưa ra trước đó.

Ước cả năm, tổng phương tiện thanh toán chỉ tăng khoảng 10%, tín dụng tăng khoảng 12%. Kết quả này được Ngân hàng Nhà nước nhìn nhận là góp phần đưa lạm phát tăng chậm lại (từ tháng 8 đến nay, lạm phát tăng dưới 1%/tháng); đồng thời góp phần giảm mạnh nhập siêu, cải thiện đáng kể cán cân thanh toán quốc tế.

Trong năm nay, tín dụng đã được kiểm soát chặt chẽ, tăng ở mức thấp nhưng cơ cấu tín dụng chuyển theo hướng tích cực, tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu, giảm cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất. Ước đến cuối năm, tín dụng tăng 12%, trong đó bằng VND tăng 10,2%, tín dụng ngoại tệ tăng 18,7%, nhưng từ tháng 8 đến nay tín dụng ngoại tệ đã có xu hướng tăng chậm lại.

Theo báo cáo, thanh khoản VND toàn hệ thống về cơ bản đã được đảm bảo. Từ tháng 10/2011, một số tổ chức tín dụng có khó khăn thanh khoản tạm thời do mất cân đối về kỳ hạn giữa huy động vốn ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn, do huy động vốn từ các tổ chức và dân cư giảm, huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng chưa đủ bù đắp, nhưng đã được Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở. Thanh khoản ngoại tệ ở mức thấp trong 7 tháng đầu năm, từ tháng 8 đã cải thiện sau khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện một số biện pháp kiểm soát tín dụng bằng ngoại tệ.

Về thị trường vàng, Ngân hàng Nhà nước cho rằng: “Việc triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm ổn định giá vàng và thị trường vàng trong nước đã góp phần đưa giá vàng trong nước bám sát với giá vàng thế giới; giới đầu cơ đã không còn khả năng thao túng thị trường; các ngân hàng đã bắt đầu mua được vàng từ thị trường trong nước để bù đắp lại lượng vàng đã bán ra, giảm bớt áp lực nhập khẩu vàng, tiết kiệm ngoại tệ và giảm bớt áp lực lên tỷ giá”.

Có một điểm bất cập được nhà điều hành đưa ra là trong những tháng đầu năm, hoạt động thanh tra, giám sát chưa quyết liệt, chế tài xử lý các vi phạm chưa nghiêm dẫn tới hiện tượng các tổ chức tín dụng sử dụng các biện pháp kỹ thuật để “lách” các quy định, tạo ra sự méo mó trong số liệu về huy động vốn, tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán, gây khó khăn trong điều hành chính sách tiền tệ, mặc dù, gần đây hiện tượng này đã giảm nhưng vẫn chưa được giải quyết triệt để.

Thanh khoản của toàn hệ thống về cơ bản được đảm bảo, tuy nhiên một số ngân hàng cổ phần gặp khó khăn tạm thời về thanh khoản đã ảnh hưởng tới hoạt động của các tổ chức tín dụng khác, gây biến động trên thị trường liên ngân hàng và tạo ra dư luận không tốt đối với hoạt động kinh doanh của hệ thống.

Ngân hàng Nhà nước cho biết đã thực hiện các biện pháp để ổn định thị trường liên ngân hàng, giám sát chặt chẽ các ngân hàng thương mại gặp khó khăn về thanh khoản và hỗ trợ kịp thời qua cho vay tái cấp vốn, tăng cung trên nghiệp vụ thị trường mở.

Trên thị trường ngoại hối, mặc dù niềm tin vào đồng Việt Nam được củng cố nhưng tình trạng đô la hóa vẫn chưa được giải quyết triệt để; tín dụng ngoại tệ tăng cao, một số tổ chức tín dụng có hệ số sử dụng vốn vượt 100%, một số tổ chức tín dụng huy động vốn nước ngoài để tăng trưởng tín dụng cao, tiềm ẩn rủi ro khi các nguồn vốn nước ngoài bị rút đột ngột. Trên thị trường vẫn còn tình trạng các tổ chức tín dụng lách các quy định về tỷ giá làm tăng bất ổn trên thị trường ngoại hối.

Một số hạn chế của hệ thống ngân hàng về thanh khoản, nợ xấu đang ngày càng bộc lộ rõ khi Ngân hàng Nhà nước triển khai các biện pháp nhằm lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực ngân hàng.

Sẽ phân bổ lại chỉ tiêu tín dụng

Trong năm 2012, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, đảm bảo kiểm soát lượng tiền cung ứng phù hợp với mục tiêu kiểm soát tổng phương tiện thanh toán 14 - 16% và tín dụng tăng trưởng 15 - 17%.

Đáng chú ý là cơ quan này đã chính thức đưa ra định hướng thực hiện và điều hành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sát với yêu cầu thực tế hơn.

Trong năm 2011, Ngân hàng Nhà nước thừa nhận là việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng dưới 20% áp dụng chung cho tất cả các ngân hàng là chưa thật sự phù hợp đối với các tổ chức tín dụng hoạt động lành mạnh có thể tăng trưởng cao hơn và với các tổ chức tín dụng hoạt động yếu kém cần phải hạn chế tăng trưởng tín dụng.

Tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất được quy định áp dụng chung cho tất cả các loại hình tổ chức tín dụng cũng chưa phù hợp với một số trường hợp có hoạt động kinh doanh đặc thù; dư nợ cho vay phi sản xuất bao gồm cả các nhu cầu vay vốn phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân (như mua nhà để ở, xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp, cho công nhân lao động thuê, nhà ở tái định cư...), nên tổ chức tín dụng không thể cho vay đối với các nhu cầu vốn này khi tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất đã sát hoặc vượt mức quy định.

Theo đó, về giải pháp điều hành tín dụng năm tới, Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo kiểm soát tăng trưởng tín dụng và dư nợ mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành lần đầu trong suốt cả năm 2012 tối đa là 15 - 17%, nhưng sẽ giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với các nhóm tổ chức tín dụng trên cơ sở xếp loại của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng. Việc xếp loại và phân bổ này thực hiện theo nguyên tắc tổ chức tín dụng hoạt động tốt thì mức tăng trưởng tín dụng cao hơn nhóm hoạt động chất lượng thấp hơn.

Ngoài ra, nhà điều hành sẽ yêu cầu tổ chức tín dụng xây dựng kế hoạch và thực hiện kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm và từng quý trong năm 2012, phù hợp với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng tối đa được phân bổ.

Ở định hướng chung, định hướng đưa ra là tiếp tục chuyển đổi cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn phục vụ lĩnh vực sản xuất và các dự án, phương án có hiệu quả, kiểm soát dư nợ cho vay các lĩnh vực không khuyến khích ở mức hợp lý; thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt chẽ cho vay bằng ngoại tệ để đảm bảo tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ phù hợp khả năng huy động vốn, chủ trương hạn chế đô la hóa trong nền kinh tế.

Cũng trong thông tin công bố, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại hoạt động ngân hàng theo đề án được Chính phủ phê duyệt với nguyên tắc không để xảy ra đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát, từng bước nâng cao tính an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống ngân hàng.

“Kiên quyết xử lý dứt điểm những ngân hàng yếu kém, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả phát triển”, Ngân hàng Nhà nước khẳng định.



Theo Minh Đức
VnEconomy
 

Họ tên :

Email :

Nội dung :

Tin cùng chủ đề

Chính sách tiền tệ năm 2012: Giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng nhóm ngân hàng

Ngày đăng : 17/12/2011 - 2:52 PM

TCTD lành mạnh sẽ được giao tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cao hơn các TCTD yếu kém. Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống 15-17%, tổng phương tiên thanh toán 14-16%.

NHNN vừa có thông báo về kết quả điều hành chính sách tiền tệ năm 2011 và định hướng năm 2012.


Năm 2011: Tổng phương tiện thanh toán tăng 10%, tín dụng tăng 12%

Tăng trưởng tín dụng

Thực hiện Nghị định 11 của Chính phủ và Chỉ thị 01 của NHNN, lượng tiền cung ứng được điều hành chặt chẽ ngay từ đầu năm, qua đó kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức 12%, tổng phương tiện thanh toán tăng 10%, góp phần đưa lạm phát tăng chậm lại.

Về cơ cấu tín dụng, ước đến cuối năm tín dụng bằng VND tăng 10,2%, tín dụng ngoại tệ tăng 18,7%, từ tháng 8 đến nay tín dụng ngoại tệ có xu hướng chậm lại.

Tăng trưởng tín dụng được kiểm soát thấp hơn 3% so với mục tiêu, song việc áp dụng chung mức tăng trưởng tín dụng cho tất cả các TCTD chưa thực sự phù hợp: đối với các TCTD lành mạnh có thể tăng trưởng cao hơn và các TCTD yếu kém cần phải hạn chế.

Tuy nhiên, từ giữa tháng 11, NHNN đã cho phép các NHTM bố trí nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ và cho vay vốn lưu động đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa một cách linh hoạt hơn.

Trong những tháng đầu năm, các TCTD sử dụng các biện pháp kỹ thuật để “lách” các quy định của NHNN, tạo ra sự méo mó trong số liệu về huy động vốn, tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán, gây khó khăn trong điều hành chính sách tiền tệ.

Cuối năm công tác thanh tra, giám sát về lãi suất và hoạt động huy động, cho vay của các TCTD được thực hiện quyết liệt đã khiến nợ xấu, thanh khoản của TCTD bộc lộ rõ. Việc này khuyến khích các ngân hàng tự nguyện liên kết, hợp nhất, sáp nhập để tăng cường sức cạnh tranh, qua đó góp phần từng bước lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng.

Về dư nợ phi sản xuất

Tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất được quy định áp dụng chung cho tất cả các loại hình TCTD, chưa phù hợp với một số trường hợp có hoạt động kinh doanh đặc thù; dư nợ cho vay phi sản xuất bao gồm cả các nhu cầu vay vốn phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân (như mua nhà để ở, xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp, cho công nhân lao động thuê, nhà ở tái định cư...), nên TCTD không thể cho vay đối với các nhu cầu vốn này khi tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất đã sát hoặc vượt mức quy định.

Về thanh khoản của các TCTD

Một số NHTM cổ phần gặp khó khăn tạm thời về thanh khoản đã ảnh hưởng tới hoạt động của các TCTD khác, gây biến động trên thị trường liên ngân hàng và tạo ra dư luận không tốt đối với hoạt động kinh doanh của hệ thống TCTD.

Các TCTD này mất cân đối về kỳ hạn giữa huy động vốn ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn, do huy động vốn từ các tổ chức và dân cư giảm, huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng chưa đủ bù đắp, nhưng đã được NHNN hỗ trợ kịp thời thông qua tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở.

Tỷ giá

Thanh khoản ngoại tệ ở mức thấp trong 7 tháng đầu năm, từ tháng 8 đã cải thiện sau khi NHNN thực hiện một số biện pháp kiểm soát tín dụng bằng ngoại tệ như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, thu hẹp đối tượng được vay ngoại tệ trong nước, đặt trần lãi suất huy động vốn bằng ngoại tệ…

Tuy nhiên tín dụng ngoại vẫn tăng cao tệ tăng cao, một số TCTD có hệ số sử dụng vốn vượt 100%, một số TCTD huy động vốn nước ngoài để tăng trưởng tín dụng cao, tiềm ẩn rủi ro khi các nguồn vốn nước ngoài bị rút đột ngột. Trên thị trường vẫn còn tình trạng các TCTD lách các quy định về tỷ giá làm tăng bất ổn trên thị trường ngoại hối.

Vàng

Việc triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm ổn định giá vàng và thị trường vàng trong nước đã góp phần đưa giá vàng trong nước bám sát với giá vàng thế giới; giới đầu cơ đã không còn khả năng thao túng thị trường; các ngân hàng đã bắt đầu mua được vàng từ thị trường trong nước để bù đắp lại lượng vàng đã bán ra, giảm bớt áp lực nhập khẩu vàng, tiết kiệm ngoại tệ và giảm bớt áp lực lên tỷ giá.

Định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm 2012: Sẽ giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng nhóm TCTD

Tổng phương tiện thanh toán năm 2012 tăng khoảng 14-16%, tín dụng tăng khoảng 15-17%; lãi suất và tỷ giá được điều hành ở mức hợp lý phù hợp với các cân đối kinh tế vĩ mô, diễn biến thị trường tiền tệ, ngoại hối.

Tín dụng

NHNN sẽ giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với các nhóm TCTD trên cơ sở xếp loại TCTD của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và theo nguyên tắc TCTD hoạt động tốt thì mức tăng trưởng tín dụng cao hơn nhóm TCTD hoạt động chất lượng thấp hơn.

Yêu cầu TCTD xây dựng kế hoạch và thực hiện kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm và từng quý trong năm 2012, phù hợp với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng tối đa mà NHNN phân bổ.

Tín dụng sẽ được tập trung vào các lĩnh vực sản xuất và các dự án, phương án có hiệu quả, kiểm soát dư nợ cho vay các lĩnh vực không khuyến khích ở mức hợp lý.

Tỷ giá

Thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt chẽ cho vay bằng ngoại tệ để đảm bảo tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ phù hợp khả năng huy động vốn, chủ trương hạn chế đô la hóa trong nền kinh tế;

Điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt theo tín hiệu thị trường, phù hợp với quan hệ cung - cầu ngoại tệ trên thị trường, diễn biến cán cân thanh toán quốc tế và các cân đối vĩ mô; tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý ngoại hối, khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, thu hút các nguồn tiền đầu tư, kiều hối,... từ nước ngoài về nước, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối nhà nước.

Cơ cấu lại hoạt động ngân hàng: Không để xảy ra đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ chất lượng hoạt động của các TCTD, đảm bảo an toàn hệ thống tránh rủi ro và giảm nợ xấu, ổn định và lành mạnh hóa thị trường tiền tệ, trước hết là thị trường liên ngân hàng, kể cả nội ngoại tệ, thị trường vàng.

Triển khai đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại hoạt động ngân hàng theo Đề án được Chính phủ phê duyệt với nguyên tắc không để xảy ra đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát, từng bước nâng cao tính an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống ngân hàng.

Kiên quyết xử lý dứt điểm những ngân hàng yếu kém, tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD hoạt động an toàn, hiệu quả phát triển.



Theo Phương Mai

TTVN/SBV
 


Quỹ ETF lần đầu được đưa vào dự thảo thông tư thành lập và quản lý quỹ đầu tư

Ngày đăng : 17/12/2011 - 1:09 AM

Thành viên tham gia lập quỹ ETF phải là các CTCK có nghiệp vụ môi giới và tự doanh chứng khoán.

Để tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, bao gồm các quỹ đóng, quỹ thành viên, quỹ ETF, quỹ đầu tư bất động sản và các loại công ty đầu tư chứng khoán.

Đáng chú ý trong dự thảo lần này đã có riêng một chương về thành lập và giao dịch quỹ ETF.

Theo dự thảo, Công ty quản lý quỹ phải công bố Danh mục đầu tư của quỹ ETF và Chứng chỉ quỹ ETF được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán.

Quy định về Thành viên lập quỹ: Thành viên lập quỹ phải tham gia góp vốn trên cơ sở hợp đồng tham gia quỹ  ETF ký với công ty quản lý quỹ và sở hữu tối thiểu một lô  đơn vị quỹ ETF (1 lô bằng 5 triệu đơn vị ccq) tại thời  điểm thành lập.


Thành viên lập quỹ phải đáp ứng một số quy định như Là công ty chứng khoán có nghiệp vụ môi giới và tự doanh chứng khoán; Có tỷ lệ vốn khả dụng tối thiểu đạt 200% liên tục trong một năm (12 tháng) gần nhất, trước tháng nộp hồ sơ đăng ký thành lập quỹ ETF…
 
Hiện tại có 2 quỹ ETF nước ngoài đầu tư vào cổ phiếu Việt Nam là Market Vectors Vietnam ETF và FTSE Vietnam ETF.

 

 

Dự thảo thông tư quỹ đầu tư

 

Phụ lục thông tư quỹ đầu tư


 Theo TTVN


Thống đốc: Xử lý dứt điểm ngân hàng yếu trong năm 2012

Ngày đăng : 17/12/2011 - 12:28 AM

Khoảng 80% thị phần ngân hàng sẽ nằm trong tay 12-15 ngân hàng lớn, thông điệp từ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình trong phần phát biểu sáng nay (16/12), tại buổi tọa đàm “Cơ cấu lại nền kinh tế” do báo Nhân Dân tổ chức.

 



Không để bất kể tổ chức tín dụng nào đổ vỡ

Đề cập đến chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại, dự kiến sẽ kéo dài từ nay đến năm 2020, Thống đốc Bình đưa ra một lộ trình cơ bản cho giai đoạn 5 năm tới, với một số định hướng khá cụ thể.

Với các công việc “phải làm ngay”, Thống đốc cho biết, qua một thời gian hoạt động, đã có những tổ chức tín dụng thể hiện sự yếu kém và đã đến lúc không thể sống được nữa.

“Không sống được thì phải có biện pháp xử lý ngay, vì để lâu chỉ làm ô nhiễm môi trường, làm cho nền kinh tế chúng ta lúc nào cũng ở trong môi trường không lành mạnh”, ông Bình - người vừa được bạn đọc báo điện tử VnExpress bình chọn là “nhân vật của năm” - nói.

Còn về dài hạn, trên cơ sở những ngân hàng có thể tồn tại sẽ có giải pháp để hỗ trợ các ngân hàng này có thể phát triển ổn định, bền vững, và mạnh mẽ hơn.

Một nội dụng quan trọng được Thống đốc đề cập trong quá trình sắp xếp này là vai trò của việc thực thi các quy định về tỷ lệ an toàn, các quy chế của Ngân hàng Nhà nước ban hành trong thời gian tới...

Ngay trong năm 2012, Thống đốc cho biết sẽ dứt điểm việc xử lý tất cả ngân hàng yếu kém, nhưng theo phương châm chung là không để bất kể tổ chức tín dụng nào đổ vỡ và đảm bảo quyền lợi của người dân.

Sang năm 2013 thì tiếp tục quá trình hợp nhất, sáp nhập các ngân hàng nhưng không phải là tiếp tục xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, mà là các ngân hàng tự nguyện sáp nhập lại với nhau để tăng quy mô, tăng khả năng tồn tại và tăng khả năng cạnh tranh giai đoạn sắp tới.

Riêng giai đoạn 2014-2015, Thống đốc khẳng định mục tiêu sẽ hình thành ít nhất 1-2 ngân hàng tầm cỡ khu vực.

“Trong khu vực, ngân hàng gọi là có tiếng trung bình có tổng tài sản khoảng 50 tỷ USD. Còn ngân hàng lớn nhất Việt Nam là Agribank có tổng tài sản khoảng 25 tỷ USD, tức là ta có khoảng một nửa của cái trung bình của khu vực thôi”, ông Bình nói.

80% thị phần trong tay 12-15 ngân hàng lớn

Đề cập đến vấn đề còn nhiều tranh cãi lâu nay, rằng hệ thống tín dụng Việt Nam nên còn bao nhiêu ngân hàng, Thống đốc cho là không thể trả lời được. Bởi theo ông, vấn đề không nằm ở chỗ bao nhiêu.

“Nhưng tiến tới là khoảng 80% thị phần sẽ thuộc về 12-15 ngân hàng. Vẫn tồn tại ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, nhưng sẽ được hoạt động theo quy chế riêng, phân khúc riêng và có những đặc thù riêng”, ông nói.

Theo người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước, bên cạnh các ngân hàng thương mại, sẽ hình thành một hệ thống tổ chức tài chính vi mô nhỏ. “Làm sao đó để tăng được khả năng tiếp cận của người dân đối với dịch vụ ngân hàng”, Thống đốc chốt lại mục tiêu của việc sắp xếp lại hệ thống tín dụng.

Để thực hiện, Thống đốc lưu ý thêm, cách làm là sẽ sử dụng nội lực là chính, “lá lành đùm lá rách”, ngân hàng khỏe phải cứu ngân hàng yếu, nhà nước cõng tư nhân, và cũng có tư nhân gồng gánh lẫn nhau.

Về cái khó trong liên kết ngân hàng, hay nói cách khác là làm sao để các nhà băng khỏe “tự nguyện” cõng nhà băng yếu, Thống đốc khẳng định sẽ tìm ra cơ chế.

“Tôi nói ví dụ trong 5 năm tới tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng chỉ cỡ khoảng 10-15% như năm vừa qua, thế thì các ngân hàng bao giờ mới gấp đôi được? Ông bỏ tiền ra gánh vác tổn thất của họ, nhưng đổi lại ông có thêm chi nhánh, có mạng lưới để hoạt động, tăng thêm được quy mô, thêm khả năng cạnh tranh”, Thống đốc nói.

Theo Anh Quân

VnEconomy


Tăng trưởng tín dụng 2012: Làm sao tránh “kẻ ăn không hết”?

Ngày đăng : 16/12/2011 - 11:33 AM

Ngày mai (17/12), Ngân hàng Nhà nước sẽ tổ chức một cuộc họp với lãnh đạo các ngân hàng thương mại, và dự kiến sẽ bàn đến nội dung tăng trưởng tín dụng trong năm tới.

                    

 

Có lẽ như hội nghị ngành ngày 7/9 vừa qua, cuộc họp lần này sẽ hạn chế sự tham dự của báo chí.

Nhưng theo thông tin từ lãnh đạo một số ngân hàng thương mại, một nội dung trọng tâm dự kiến được bàn tới là định hướng tăng trưởng tín dụng năm tới, trong đó sẽ đặt ra câu chuyện của sự công bằng.

Trước hết, ở định hướng chung, như thông tin thời gian qua, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2012 dự kiến sẽ tiếp tục ở mức thấp, chỉ khoảng từ 15% - 17%. Cùng với đó, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán dự kiến cũng được kìm chỉ khoảng 14% - 16%.

Với những chỉ tiêu dự kiến trên, 2012 tiếp tục là năm chính sách tiền tệ được thắt chặt so với sự bùng nổ của tín dụng và tổng phương tiện thanh toán những năm trước đây. Dữ liệu lịch sử cho thấy đó là những mức chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thấp nhất trong hơn một thập kỷ qua.

Có nhiều lý do để Ngân hàng Nhà nước xác định những giới hạn thấp đó, xuất phát từ yêu cầu kiềm chế lạm phát, từ những khuyến nghị chưa vội nới lỏng từ các tổ chức quốc tế mới đây… Và cũng có một cơ sở được tính đến là khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đã tốt hơn những năm trước; tín dụng tăng trưởng rất thấp năm 2011 (chỉ khoảng 13%, nếu tính cả các khoản có bản chất tín dụng có thể là 15%) nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn bám sát chỉ tiêu đề ra.

Các chỉ tiêu định hướng đã được đưa ra thời gian qua. Vấn đề còn lại là sự “phân phối” chỉ tiêu đó trong hệ thống sẽ như thế nào, hay sự công bằng tín dụng cho các nhà băng sẽ triển khai ra sao?

Ngày 5/10/2011, Ngân hàng Nhà nước có bản tin đáng chú ý, trong đó hé mở khả năng các chỉ tiêu tăng trưởng sẽ được xác định phù hợp với trạng thái hoạt động của từng ngân hàng để tạo thuận lợi cho việc lập kế hoạch hoạt động của các tổ chức tín dụng, thay vì cào bằng giới hạn 20% như trong năm 2011 này.

Nay, thời điểm đã cận kề, các ngân hàng thương mại cần một bộ tiêu chí hoặc các cơ sở định hướng để hoạch định chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho riêng mình trong năm tới, phù với với nhu cầu và năng lực thực tế. Rộng hơn, hệ thống cần một cơ chế giới hạn tín dụng sát thực, phù hợp với sức khỏe của từng thành viên để tránh tình trạng “kẻ ăn không hết, người lần không ra” như năm 2011, dẫn đến sự hạn chế trong phân bổ nguồn vốn cho nền kinh tế.

Trao đổi với VnEconomy tối qua (15/12), tổng giám đốc một ngân hàng nhỏ đưa ra quan điểm rằng: việc Ngân hàng Nhà nước giới hạn chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng là cần thiết, vì nó cần phù hợp và cân đối với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác. Tuy nhiên, cũng cần phải tính toán để phù hợp với từng tổ chức tín dụng để tránh sự hạn chế trong cạnh tranh.

Theo tổng giám đốc này, một giới hạn cào bằng như năm 2011 dẫn tới sự mất công bằng giữa các thành viên. Năng lực vốn, năng lực bán hàng và năng lực quản trị rủi ro của mỗi ngân hàng là khác nhau, trong khi cùng chung một giới hạn như vậy dẫn đến vốn chỗ thừa, chỗ thiếu trong hệ thống. Hay cùng một cỡ áo, với cơ thể này là quá chật, với cơ thể khác là quá rộng. Thực tế hoạt động cho vay của các nhà băng năm nay đã phản ánh rõ điều đó.

Quan điểm mà ông đưa ra là Ngân hàng Nhà nước có thể mở giới hạn tín dụng ngay từ đầu năm, các ngân hàng sẽ cạnh tranh để cho vay tùy theo năng lực của mình. Khi có cạnh tranh sẽ có thêm lợi ích cho người vay vốn, cụ thể ở đây là cơ hội tiếp cận vốn và lãi suất. Ngân hàng Nhà nước sẽ bám sát thực tế để có sự can thiệp bằng kỹ thuật hoặc bằng hành chính nếu có dấu hiệu tăng trưởng nóng.

“Có thể với ngân hàng tôi khả năng cạnh tranh chưa mạnh, năng lực bán hàng chưa cao như nhiều thành viên khác, nhưng tôi ủng hộ hướng tạo cạnh tranh trong tín dụng như vậy. Cơ chế tín dụng ở đây không hẳn là lợi ích của mỗi thành viên trong hệ thống mà cần nhìn nhận ở lợi ích chung là phân bổ vốn hiệu quả cho nền kinh tế, có cạnh tranh để tạo lợi ích cho các doanh nghiệp vay vốn”, tổng giám đốc này nói.

Từ đầu năm 2011, sau khi Ngân hàng Nhà nước đưa ra giới hạn tăng trưởng tín dụng dưới 20% áp cho tất cả các thành viên, nhiều ý kiến trong cuộc cũng đã kiến nghị được điều chỉnh. Những ý kiến đó cho rằng cần điều chỉnh để tạo sự công bằng giữa các thành viên, khi giữa họ có sự khác nhau về năng lực vốn, năng lực quản trị, hay về các hệ số an toàn trong hoạt động… Theo đó, có thể Ngân hàng Nhà nước sẽ đưa ra các tiêu chí dựa trên cơ sở những chỉ số này để phân nhóm giới hạn cho năm 2012.

Bên cạnh đó, ông Lê Đào Nguyên, thành viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), cho rằng việc xác định chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm tới cũng cần tính tới một số tiêu chí khác như thực tế hoạt động của mỗi ngân hàng. Trường hợp có lịch sử cho vay quá nhiều ở lĩnh vực bất động sản, đầu tư chứng khoán, hay thường có biểu hiện khó khăn thanh khoản… thì cũng cần tính toán giới hạn cho phù hợp.

Có thể sau cuộc họp ngày mai, Ngân hàng Nhà nước sẽ có thêm thông tin về vấn đề này. Và nếu có sự phân nhóm trong chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm tới thì nhà điều hành cần thông tin minh bạch các tiêu chí hoặc cơ sở xác định, tránh sự hoài nghi về “lợi ích nhóm”, cơ chế xin - cho có thể nảy sinh trong dư luận.

 

Theo VnEconomy.vn


Bất thường lãi suất BIDV

Ngày đăng : 16/12/2011 - 11:24 AM

Liên tiếp giảm lãi suất cho vay, BIDV đang tạo hiện tượng trong hệ thống. Với nhiều doanh nghiệp, 14,5 - 15,5%/năm là những mức lãi suất “mơ ước”.

 

 

Chiều 16/12/2011, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tiếp tục thông báo giảm lãi suất cho vay VND xuống còn 14,5 - 15,5%/năm. Đây là lần thứ 5 liên tiếp trong vòng 4 tháng cuối năm 2011 ngân hàng này giảm lãi suất cho vay; là lần thứ hai liên tiếp chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng.

Dù chỉ áp cho một số nhóm đối tượng theo chủ trương Ngân hàng Nhà nước khuyến khích, nhưng loạt quyết định giảm lãi suất trên của BIDV là đáng chú ý. Với nhiều người trong cuộc hoặc đang quan tâm đến vấn đề lãi suất, có thể xem đó là một bất thường.

Lần giảm đầu tiên của “ông lớn” này trong năm nay là trong tháng 8/2011. Đây cũng là thời điểm hệ thống ngân hàng Việt Nam đón người đứng đầu mới, mà thông điệp đầu tiên tân Thống đốc đưa ra là giảm lãi suất cho vay xuống 17 - 19%/năm. Từ đó đến nay, nhiều ngân hàng thương mại đã lần lượt đưa ra các chương trình ưu đãi lãi suất theo chủ trương và định hướng của Ngân hàng Nhà nước.

Nhưng bất thường khi nhìn chung hầu hết các ngân hàng thương mại đều hạ lãi suất cho vay một cách thận trọng, chậm và chưa thể mạnh tay. Ngay tại thời điểm này, bốn tháng sau chủ trương trên, nhiều thành viên cho biết để hạ xuống 17 - 18%/năm cũng đã là một khó khăn. Và hiện chưa có thành viên thứ hai ngoài BIDV liên tiếp giảm và áp những mức thấp như vậy (15,5%/năm hiện được xem là tối đa).

Và cũng là “bất thường” khi suốt thời gian qua và hiện nay rất nhiều doanh nghiệp (kể cả trong nhóm ưu tiên) vẫn phải vay với lãi suất cao; hay nói cách khác, 14,5 - 15,5%/năm là những mức “mơ ước” so với thực tế.

Tất nhiên, chính sách ưu đãi trên BIDV chỉ dành riêng cho nhóm doanh nghiệp xuất khẩu, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa hay nhu cầu vay khắc phục hậu quả thiên tai... Nhưng đó cũng là một nhóm đối tượng lớn. Thực tế ngay tại BIDV, trong tổng số khoảng 270.000 tỷ đồng dư nợ hiện nay thì nhóm những đối tượng này chiếm tỷ trọng khoảng 40%.

Hay ở một tính toán tham khảo khác, chính sách lãi suất trên được áp cho các khoản vay ngắn hạn, nhưng chỉ riêng khoảng 3 tháng, lợi nhuận của BIDV sẽ bị chia sẻ khoảng 200 - 220 tỷ đồng so với cho vay lãi suất thông thường. Đó là một con số đáng chú ý trước thực tế lợi nhuận năm nay của ngân hàng này đang giảm; áp lực lợi nhuận sẽ rõ ràng hơn khi ở đây bắt đầu có khái niệm cổ đông sau kế hoạch IPO tuần tới. Về khía cạnh kinh doanh, là sòng phẳng khi cổ đông đặt ra vấn đề lợi ích, thực tế đã được đặt ra tại buổi roadshow vừa qua.

Câu hỏi đặt ra là vì sao BIDV liên tiếp giảm lãi suất và áp thấp như vậy (so với mặt bằng chung)? Liệu có mục đích phi kinh tế ở đây hay không?

Ở câu hỏi thứ nhất, ông Phạm Quang Tùng, Phó tổng giám đốc BIDV, giải thích rằng, trước hết đây là chính sách áp cho các khoản vay ngắn hạn, tập trung chia sẻ và hỗ trợ doanh nghiệp ở mùa cao điểm thanh toán cuối năm. Nhu cầu vốn ở thời điểm này như thường thấy là rất nóng, năm nay cũng vậy và đó là sự chia sẻ đúng thời điểm.

Ở câu hỏi thứ hai, dù không phân tích chi tiết, nhưng ông Tùng cũng giải thích rằng là nhằm tạo một sự tương tác có lợi cho chính ngân hàng. Giảm lãi suất lúc này, cũng như liên tiếp thời gian qua, được xem là một hướng cạnh tranh lôi kéo khách hàng về phía mình của BIDV. Họ là khách hàng vay vốn, nhưng cũng sẽ là mối tiền gửi tiềm năng trong tương lai.

Dù BIDV chưa trả lời câu hỏi từ phóng viên là dữ liệu lượng khách hàng tăng lên sau các chương trình hạ lãi suất như vậy để có thêm có một tham chiếu cho khả năng tiếp cận vốn thực tế, nhưng nhiều khả năng là có. Ngược lại, để tiếp cận được những mức lãi suất hấp dẫn đó có đơn giản hay không? Nếu nhiều nhu cầu dồn về BIDV theo lực hấp dẫn đó thì cơ chế giải ngân thế nào?

Dù sao, ngoài tỷ trọng 40% tổng dư nợ thuộc về nhóm ưu đãi, tăng trưởng tín dụng với 16,5% tính đến thời điểm này - cao hơn mức bình quân của ngành khoảng 13% - cũng là một dữ liệu để tham khảo cho các chương trình giảm lãi suất vừa qua.

Có một điểm khác đáng chú ý xoay quanh những câu hỏi trên. BIDV đang thực hiện tái cơ cấu, trong đó có trọng tâm là danh mục cho vay. Ngoài yêu cầu chung giảm bớt hoặc hạn chế tín dụng phi sản xuất, nhà băng này đang hướng tới cải tổ chính mình. Ông Tùng cho biết, định hướng đặt ra là tái cơ cấu tín dụng theo hướng không lệ thuộc vào những khách hàng quá lớn như trước đây, tăng tín dụng bán lẻ để có tỷ lệ lãi biên cao hơn.

Nếu như vậy, việc giảm bớt những khoản cho vay lớn sẽ đi cùng với cơ hội mở thêm cho các món vay nhỏ, đồng nghĩa với khả năng tiếp cận vốn từ chính sách trên là thực hơn về số lượng khách hàng.

Ở khía cạnh kinh tế, ngoài mục đích tạo thêm khách hàng, lãnh đạo BIDV cho biết các mức lãi suất thấp đó là đã được tính toán cụ thể và phù hợp. Cụ thể ở đây là tỷ lệ lãi biên.

Thông thường, lãi suất cho vay 14,5 - 15,5%/năm so với lãi suất huy động đầu vào 14%/năm thì chênh lệch chỉ từ 0,5 - 1,5%. Với các ngân hàng nói chung, chênh lệch dưới 2,5% được xem là bất thường và khó đỡ trước áp lực lợi nhuận và các chi phí liên quan. Điều đó có lẽ chỉ đúng với các ngân hàng cổ phần bình thường, với BIDV thì có một cơ sở khác.

Ông Tùng giải thích rằng, sở dĩ BIDV đưa ra được những mức lãi suất cho vay như vậy một phần có từ thuận lợi ở nguồn vốn đầu vào, khi có lượng tiền gửi thanh toán lớn không kỳ hạn lãi suất thấp. Mặt khác, giá vốn đầu vào là khác nhau, không phải tất cả đều 14%/năm.

Với thị trường, lâu nay BIDV vẫn được biết đến là một ngân hàng quốc doanh có nhiều lợi thế trong việc tiếp nhận các nguồn tiền gửi lớn, các nguồn ủy thác, các nguồn vốn hỗ trợ đầu tư phát triển… với lãi suất thấp.

Với giá vốn đầu vào đó, cũng như cân đối ở các lĩnh vực cho vay khác, tỷ lệ lãi biên bình quân năm nay của “ông lớn” này vẫn đạt được khoảng 2,9%. Nhưng đây vẫn là một tỷ lệ thấp so với nhiều nhà băng khác, nhất là trong bối cảnh không còn được “vung tay” tăng tín dụng để thu theo số lượng như những năm trước.

Hiện khó khẳng định thực tế việc tiếp cận nguồn vốn ưu đãi trên như thế nào, nhưng ít nhiều đó là một sự chia sẻ cần thiết của BIDV đối với các doanh nghiệp vay vốn. Câu hỏi là liệu sau khi cổ phần hóa, trước áp lực lợi nhuận và lợi ích cổ đông, họ có tiếp tục đẩy mạnh được sự chia sẻ đó?

Trả lời câu hỏi này, ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch BIDV nói rằng: “Sẽ tiếp tục thực hiện nhưng sẽ tính toán phù hợp và không làm phương hại đến lợi ích cổ đông”.

 


Theo Minh Đức

 VnEconomy

 


 

Tin mới cập nhật